Trường mầm non Quán Toan
Giới thiệu trường

Trường Mầm Non Quán Toan được thành lập tháng 10/1988 thuộc thị trấn Quán Toan, Huyện An Dương, Hải Phòng. Khi mới thành lập trường chỉ có 7 lớp, 186 trẻ và 15 CBGVNV. Năm 1994, thị trấn Quán Toan trở thành phường Quán Toan quận Hồng Bàng, Hải Phòng, trường có sự thay đổi về qui mô ...

* SKKN phát triển ngôn ngữ

Đề tài:

  Làm thế nào để trẻ  5-6 tuổi hứng thú, tích cực và cảm thụ tốt

  tác phẩm văn học thông qua hoạt động kể chuyện.  

 

Phần I- Đặt vấn đề

1.  Lí do chọn đề tài:

Văn học là loại hình nghệ thuật mà trẻ thơ được tiếp xúc rất sớm. Ngay từ khi chào đời, các bé đã được làm quen với các tác phẩm văn học qua những giai điệu nhẹ nhàng, thiết tha của lời ru ầu ơ của bà, của mẹ. Lớn hơn chút nữa, các câu chuyện dân gian, các tác phẩm thơ truyện hiện đại đã gieo vào lòng các bé sự mến yêu với thế giới xung quanh giúp các bé mở rộng nhận thức về thế giới xung quanh, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, những ước mơ cao đẹp giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong tự nhiên, trong quan hệ xã hội và vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học. Hình tượng văn học có sức mạnh lôi cuốn trẻ thơ, nó có tác động mạnh mẽ lên tình cảm của trẻ. Những bài học giáo dục đến với trẻ một cách tự nhiên, không gò bó, không mang tính giáo huấn bắt buộc.

 Tuy nhiên, do hạn chế của độ tuổi này trẻ chưa biết chữ, chưa thể tự đọc, tự hiểu đầy đủ về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ  phụ thuộc vào sự truyền thụ của giáo viên (nghe người lớn đọc, kể). Làm thế nào để chúng ta có thể giúp trẻ cảm thụ được các tác phẩm văn học một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất? Điều này không phải giáo viên nào cũng làm tốt được. Xuất phát từ niềm đam mê đối với các tác phẩm văn học, đặc biệt là thực tế giảng dạy nhiều năm qua đã giúp tôi tìm ra “một số biện pháp nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi hứng thú, tích cực và cảm thụ tốt tác phẩm văn học thông qua hoạt động kể chuyện”

 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Nhằm tìm kiếm một số biện pháp giúp trẻ 5- 6 tuổi hứng thú, tích cực và yêu thích các tác phẩm văn học đồng thời bồi dưỡng, nâng cao khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học cho trẻ.

Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, tạo hứng thú, tích cực cho trẻ khi tham gia kể chuyện và “đọc” sách.

 3. Kết quả cần đạt của đề tài:

- Trẻ hứng thú, tích cực làm quen với các tác phẩm văn học.

- Trẻ có khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học.

- Trẻ có kĩ năng “đọc”, kể diễn cảm và thể hiện tác phẩm dưới các hình thức khác nhau.

- Trẻ biết biểu lộ xúc cảm, tình cảm thông qua nội dung câu chuyện và có hứng thú khi tham gia các hoạt động văn học nghệ thuật (thích đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch cho người khác xem...).

- Trẻ biết diễn đạt rõ ràng, mạch lạc và sử dụng ngôn ngữ giọng địeu phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.

- Trẻ học được một số hành vi chuẩn mực đạo đức từ các tác phẩm văn học.

 4. Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

- Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 5 tuổi lớp A1- Trường MN Quán Toan- Quận Hồng Bàng- Hải Phòng.

- Thời gian thực hiện đề tài: 2năm (2009 -2010 và 2010- 2011)

 

Phần II: Nội dung

 

 1. Cơ sở lí luận

         Trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm non nói riêng, các tác phẩm văn học có vị trí sức mạnh riêng. Nó trở thành nội dung và phương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nga lỗi lạc Bielinxki đã từng nói: “Một tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà giáo dục là sự nghiệp vĩ đại vì nó quyết định số phận con người”. Việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học giúp góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, phát triển ngôn ngữ và hứng thú “đọc” sách, và kĩ năng đọc kể tác phẩm cho trẻ.

Trong các tác phẩm văn học cụ thể là trong thơ ca và truyện kể chứa đựng những nội dung lí thú, những hình tượng nghệ thuật trong sáng, vốn ngôn từ giàu chất mỹ cảm và nguồn tưởng tượng giàu có. Đây chính là những bài học đầu tiên giúp trẻ thỏa mãn khao khát nhận thức, khám phá thế giới xung quanh. Nếu chỉ xét riêng tác dụng kích thích trí tưởng tượng thôi cũng đã thấy văn học cần thiết biết chừng nào đối với lứa tuổi mẫu giáo- “lứa tuổi cần hoạt động thật nhiều để cho trí tưởng tượng tràn ngập tâm hồn” (Karen Eden Haumare). Những vần thơ, những câu chuyện ấy luôn chứa đựng những nội dung giáo dục đạo đức cao cả, phù hợp với lứa tuổi mà tâm hồn tình cảm đang trong như suối tận nguồn. Khi được tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghe đọc, kể diễn cảm và sự dẫn dắt của cô giáo, những ấn tượng nghệ thuật mà trẻ thu nhận được sẽ hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức bền vững, khơi gợi những xúc cảm tình cảm thẩm mỹ, hình thành ở trẻ năng lực cảm thụ văn học, khả năng hoạt động nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật. Văn học còn là phương tiện có hiệu quả giúp trẻ phát triển và mở rộng vốn từ, giúp trẻ học được cách sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong sáng giản dị, phù hợp với trí tưởng tượng và tư duy của trẻ, trẻ học được cách giao tiếp có văn hóa. Những điều đó chính là tiền đề thúc đẩy sự phát triển nhân cách con người ở trẻ.

Chính những yếu tố đó đã lôi cuốn trẻ và đem lại cho các em niềm vui sướng và sự yêu thích khi được tiếp xúc với các tác phẩm văn học.

2.     Thực trạng

      a)    Thuận lợi:

Trường tôi có nhiều điều kiện thuận lợi để trẻ làm quen với các tác phẩm văn học:

- Phòng thư viện của trường rộng rãi, có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học như: hệ thống sách truyện, đĩa truyện phong phú nhiều chủng loại, đồ dùng nguyên học liệu phục vụ cho hoạt động này đa dạng, thẩm mỹ...

- Bản thân tôi ngay từ nhỏ đã rất yêu thích văn học và có thói quen đọc truyện từ rất sớm. Tôi luôn thích được hòa mình trong những câu chuyện lí thú hay những bài thơ, bài đồng dao, ca dao mượt mà, tình cảm. Vì thế tôi đã dành nhiều thời gian cho hoạt động này.

- Trẻ ở lớp tôi hầu hết trẻ nhanh nhẹn, hoạt bát và hứng thú trong giờ làm quen với các tác phẩm văn học.

         b) Khó khăn:

            - Khả năng cảm thụ các tác phẩm văn học của trẻ không đồng đều nên trẻ tiếp thu và thể hiện khả năng nghe hiểu tác phẩm cũng khác nhau.

- Nhiều trẻ còn nhút nhát, thiếu tự tin và khả năng diễn đạt ngôn ngữ, khả năng thể hiện biểu cảm tác phẩm của trẻ còn nhiều hạn chế.

- Cô giáo chưa thực sự linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức hoạt động kể chuyện nên chưa thu hút để tạo hứng thú cho trẻ tích cực tham gia vào hoạt động.

- Việc chuẩn bị đồ dùng trực quan chưa phong phú, đa dạng, chưa kích thích hứng thú và sự tò mò ham hiểu biết, khám phá của trẻ.

- Lựa chọn hệ thống câu hỏi đàm thoại chưa kích thích tư duy và chưa phát huy tính tích cực của trẻ.

- Trước tình hình đó, tôi đã suy nghĩ tìm ra một số biện pháp hữu hiệu nhất để giờ làm quen với tác phẩm văn học có hiệu quả tốt hơn, trẻ hứng thú, tích cực hơn khi làm quen với tác phẩm văn học.

3.     Biện pháp thực hiện:

 

         a) Thiết kế đồ dùng trực quan đẹp, sinh động để thu hút sự hứng thú tích cực của trẻ.

 

 Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ lứa tuổi này, nhận thức của trẻ đi từ trực quan cụ thể đến tư duy trìu tượng, từ nhận thức cảm tính đến lí tính. Mọi sự vật hiện tượng xung quanh được trẻ tiếp nhận bằng hình ảnh cụ thể. Nhưng trẻ lại chưa tự mình đọc và cảm thụ được tác phẩm văn học. Mặt khác, trẻ nhanh nhớ nhưng lại mau quên, sự chú ý của trẻ kém bền vững, dễ phân tán. Do vậy, đối với trẻ lứa tuổi này thì đồ dùng trực quan đóng một vai trò quan trọng giúp trẻ hiểu nội dung và nhớ sâu hơn về tác phẩm. Trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, tôi đã sử dụng kết hợp giữa việc kể chuyện với sử dụng đồ dùng trực quan minh họa. Các nhà tâm lý học và giáo dục học nhận định rằng: trẻ càng nhỏ thì vai trò của đồ dùng trực quan trong cảm thụ các tác phẩm văn học càng lớn. Đồ dùng trực quan càng đẹp, càng sinh động thì trẻ càng hứng thú với tác phẩm, hiệu quả của giờ học càng được nâng lên rõ rệt. Hơn nữa, trẻ lứa tuổi này  rất thích khám phá tìm tòi và tạo ra cái mới lạ. Từ thực tế đó tôi luôn suy nghĩ thay đổi và tạo ra các loại đồ dùng trực quan đa dạng, phong phú để kích thích hứng thú và niềm say mê đối với trẻ như: sân khấu rối nước, rối bóng, sa bàn, rối dẹt cử động, rối ngón tay, nặn tò he…

Muốn làm được điều này tôi đã sưu tầm, thu lượm các nguyên vật liệu, phế thải như: sách báo, tạp chí, tập san, lõi giấy, hộp bìa cat tông, vỏ hộp, vỏ chai lọ mỹ phẩm, các loại hột hạt, len, vỏ trứng…Đó là kho tàng nguyên vật liệu vô cùng phong phú, dễ kiếm có thể giúp cô và trẻ tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các hoạt động học.

 Từ môn nghệ thuật múa rối nước truyền thống của dân tộc ta, tôi đã vận dụng và thiết kế thành sân khấu múa rối nước sử dụng chủ yếu trong các giờ kể chuyện có cảnh liên quan đến môi trường nước. 

 

 Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với câu chuyện: “Ếch Cốm ”, truyện “Nhà rùa ở đâu”, “Ếch Xanh và cá con”, hay truyện “Vịt con không biết vâng lời mẹ” … Tôi đã xây dựng sân khấu rối nước làm cảnh nền cho truyện.

Đầu tiên tôi tạo ra hồ nước từ 1 cái chậu to hình tròn hoặc hình bầu dục. Tôi trang trí thành chậu bằng giấy màu các loại hoặc dán báo xung quanh theo ý thích để tạo thành hồ nước thật tự nhiên và đẹp mắt.

 Tôi xếp các chậu cây cảnh của lớp ở xung quanh hồ nước cho đẹp và hợp lí để khi sử dụng rối thuận lợi và dễ dàng.

Tôi tận dụng các khối xốp và gọt các nhân vật theo nội dung của truyện ( có thể là vịt, rùa, cá, ếch…), sau đó tôi quết màu phù hợp cho nhân vật (con vật) và gắn dây thép để tiện điều khiển rối dưới nước.

Tôi dạy trẻ cách gắn dây và cách tự điều khiển con vật dưới nước.

Việc sử dụng sân khấu rối nước không chỉ phục vụ cho hoạt động làm quen với văn học mà còn được sử dụng trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh khi tìm hiểu khám phá “một số con vật sống dưới nước” hay sử dụng để tạo cảm xúc trong hoạt động tạo hình khi cho trẻ vẽ, nặn, xé dán các con vật dưới nước. Với cách tổ chức mới mẻ, hấp dẫn này sẽ tạo được nhiều hứng thú cho trẻ.

 Sử dụng sân khấu rối nước trong tiết học đã tạo được sự chú ý, tò mò của trẻ tạo điều kiện cho trẻ có khả năng cảm thụ tác phẩm văn học tốt hơn, giúp đa số trẻ nhớ được nội dung câu chuyện, lời thoại của các nhân vật trong truyện.

 - Khi cho trẻ làm quen với các tác phẩm truyện, tôi đã thay đổi các hình thức trực quan để luôn tạo cho trẻ sự hứng thú và cảm giác mới lạ. Tôi đã thiết kế màn hình bằng vải kết hợp với ánh sáng của đèn chiếu (đèn chụp) để tạo ra sân khấu rối bóng cho trẻ làm quen với truyện.

 Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ làm quen với câu chuyện: “Chú Gà Trống thông minh”, tôi đã thiết kế sân khấu rối bóng để kể chuyện cho trẻ. Bằng một tấm nhựa mika trong và màu nước tôi tạo nên cảnh nền cho câu chuyện. Khi biểu diễn rối, tôi tắt hết điện chỉ để đèn chiếu phía sau màn hình vải. Sau đó sử dụng rối ở giữa màn hình và đèn chiếu. Lúc đó hình ảnh nhân vật sẽ nổi lên màn hình, các nhân vật cử động được một cách linh hoạt trên màn chiếu sẽ tạo sự mới lạ và thích thú đối với trẻ.

 Ngoài hình thức này tôi còn tạo ra các tranh gắn rối dẹt cử động để trẻ có thể tự mình sử dụng trong góc kể chuyện.

 Tôi và trẻ cùng tìm hình vẽ trên trên họa báo, tạp chí, tập san… hoặc trẻ vẽ các nhân vật trên giấy khổ A3 theo ý thích sau đó cắt ra ốp lên bìa hoặc nhựa cứng và buộc dây thép làm các nhân vật đó cử động. Tôi gợi ý để trẻ vẽ một vài cảnh nền đơn giản, trang trí và tô màu cho đẹp sau đó gắn bông, gai vào sau nhân vật và tranh nền.

Tôi hướng dẫn trẻ đóng các bức tranh đó thành quyển truyện. Trẻ kể đến đâu sẽ gắn nhân vật lên theo thứ tự truyện đến đó.

Để tạo nên sự phong phú về chất liệu và chủng loại cho các nhân vật trong truyện, ngoài việc tạo ra các loại rối dẹt, rối tay… tôi thường hướng dẫn trẻ cùng tôi làm các nhân vật bằng các nguyên liệu dễ kiếm khác như dùng dao gọt các khối xốp thành những con vật đặc biệt là những con vật sống dưới nước như: rùa, vịt, cá… trong các truyện: “Vịt con không biết vâng lời mẹ” hay truyện: “Ếch Cốm”, “Chuyện của Chép con”… Sau đó tôi cho trẻ quyết màu cho phù hợp với từng nhân vật và có thể gắn dây thép để điều khiển con vật dưới nước được dễ dàng.

Hoặc tôi tận dụng những lõi giấy, lõi chỉ, các khối hộp bằng bìa, bằng nhựa… có kích cỡ khác nhau để làm thân các con vật như: gà, mèo, chó, lợn… trong các truyện như: “Ba chú lợn nhỏ”, “Đôi bạn thân”, “Cáo, Thỏ và Gà Trống”…hay tận dụng những quả bóng bàn, bóng tennis, bóng nhựa nhỏ để làm đầu cho chúng đồng thời gắn chân để chúng đứng được. Giữa các bộ phận đó tôi đều dùng dây thép dẻo để làm chúng cử động trên sa bàn các câu chuyện.

Ngoài ra chất liệu bằng bột màu dẻo, bằng đất nặn cũng được tôi sử dụng để tạo ra các nhân vật  trong truyện. Xuất phát từ những sản phẩm nặn tò he của các nghệ nhân mà trẻ em rất yêu thích, tôi đã cùng trẻ nặn ra những nhân vật trong các câu chuyện. Nguyên liệu chính là đất nặn và bột màu dẻo tôi đã hướng dẫn trẻ lớp tôi nặn thành những nhân vật khác nhau sau đó cắm que tre vào để cầm di chuyển. Những nhân vật do chính bàn tay trẻ nặn ra vừa củng cố các kĩ năng nặn cho trẻ vừa phát huy được trí tưởng tượng, rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay giúp trẻ mạnh dạn, tự tin khẳng định mình.

Những nhân vật quen thuộc như: Chú gà trống, con thỏ, con cá, nàng tiên, bông hoa hồng (trong chuyện “Chú gà trống thông minh”, “Ba cô tiên”…) chính là những nhân vật để trẻ kể chuyện. Khi trẻ kể, tôi chuẩn bị sa bàn để câu chuyện của trẻ thêm sống động hơn.

 Những sản phẩm do tự tay mình làm ra được sử dụng trong các giờ học sẽ giúp trẻ thích thú học hơn rất nhiều. Nhờ đó mà hiệu quả của giờ học sẽ đạt kết quả cao.

 Tôi chọn những hoạt động thích hợp như: hoạt động tạo hình, hoạt động vui chơi trong góc nghệ thuật và xen kẽ trong một số hoạt động khác để trẻ được làm những đồ dùng, đồ chơi trên theo khả năng và theo ý thích của mình. Khi hướng dẫn trẻ tạo ra một số con vật đơn giản như gà, vịt, cá… tôi không đưa ra một mẫu cụ thể nào để bắt trẻ phải làm theo mà tôi gợi ý đồng thời giao nhiệm vụ một cách khéo léo, nhẹ nhàng để trẻ tự chọn nguyên vật liệu và tự sáng tạo ra con vật mà trẻ thích. Cách làm đó sẽ luôn phát huy được tính tích cực, độc  lập sáng tạo của trẻ.

Ngoài việc dạy trẻ làm những con vật đơn giản trong một số câu chuyện, tôi còn hướng dẫn trẻ vẽ thay đổi nét mặt của các nhân vật sao cho phù hợp với tâm trạng của nhân vật theo nội dung truyện.

 Ví dụ: Tôi hướng dẫn trẻ vẽ ánh mắt tươi vui, hớn hở của Gà con, Vịt con khi được mẹ cho đi chơi hay vẽ ánh mắt hốt hoảng, lo sợ của Gà con, Gà mẹ khi thấy Cáo đuổi bắt Gà con…(trong truyện: “Đôi bạn thân”)

 Tùy vào nội dung câu chuyện, tôi gợi ý trẻ tạo ra các trang phục của con vật sao cho phù hợp với bối cảnh truyện như quàng khăn, đội mũ, trang trí áo quần, giày…

 Ví dụ: trong truyện “Gà tơ đi học”, trẻ có thể tạo ra một chiếc túi sách cho nhân vật Mèo và các bạn Vịt đeo đi học; chiếc nơ cổ cho thầy giáo Vịt… Hay có thể tạo ra chiếc khăn quàng cổ cho “Cô bé quàng khăn đỏ”, chiếc khăn đội đầu cho Dê mẹ (trong truyện “Dê con biết vâng lời mẹ”)…

 Những sản phẩm mà trẻ tự tay mình tạo ra luôn được tôi sử dụng trong các câu chuyện có thể sử dụng để trẻ tập kể lại chuyện hay để trẻ kể chuyện sáng tạo theo ý thích của mình.

Trẻ được quan sát trực tiếp những sản phẩm đó phục vụ trong giờ học, trẻ càng cảm thấy yêu mến và thích thú hơn với câu chuyện. Đây cũng là một hình thức giáo dục cho trẻ biết yêu quý sức lao động ngay từ khi còn nhỏ.

 Như vậy để tạo hứng thú và tăng khả năng cảm thụ tác phẩm văn học, tăng sự tập trung chú ý cho trẻ trong giờ làm quen với văn học đòi hỏi phải có sự đồng cảm giữa cô và trẻ. Cô phải thực sự hiểu nhu cầu của trẻ và đem lại sự thay đổi, sự mới lạ đến với trẻ. Việc sáng tạo ra nhiều loại đồ dùng trực quan đa dạng khác nhau, vừa mới lạ vừa hấp dẫn sẽ càng tăng kích thích hứng thú đối cho trẻ. Trẻ tự tay mình làm ra đồ dùng, đồ chơi sử dụng trong học tập không những giúp trẻ biết cách làm đồ dùng, đồ chơi mà còn bồi dưỡng ở trẻ tình cảm yêu mến, quý trọng sức lao động mình bỏ ra đồng thời giúp trẻ biết cách sử dụng đồ chơi đó có hiệu quả.

          b) Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp để kích thích hứng thú và tư duy của trẻ

 

Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đặc biệt là truyện kể, ngoài việc chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan minh họa thì việc xây dựng hệ thống các câu hỏi đàm thoại có ý nghĩa rất lớn. Bởi nó không những ảnh hưởng tới sức truyền cảm của câu chuyện, bài thơ mà còn góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ nhớ được nội dung câu chuyện, bài thơ, hiểu được tính cách từng nhân vật lâu hơn, sâu sắc hơn.

 Trẻ mầm non, tư duy của trẻ còn rất nhiều hạn chế, vốn ngôn ngữ chưa nhiều, do vậy câu hỏi cô đưa ra cho trẻ cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và tập trung vào nội dung chính của truyện.

 Ví dụ: Khi dạy trẻ câu chuyện: “Cáo, Thỏ và Gà Trống” tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại như sau:

- Cô vừa kể cho các con nghe truyện gì?

- Trong truyện có những ai?

- Các con hãy nhận xét về ngôi nhà của Cáo và nhà của Thỏ?

- Khi mùa xuân đến, Cáo đã làm gì?

- Ai đã đến giúp Thỏ đuổi Cáo đi?

- Vì sao bầy Chó và bác Gấu lại không đuổi được Cáo?

- Gà Trống làm thế nào mà đuổi được Cáo?

Chúng ta không nên đặt câu  hỏi rườm rà, thiếu tư duy hay câu hỏi “đóng” như:

- Các con có thích câu chuyện cô vừa kể không?

- Các con thấy bạn Gà Trống có dũng cảm không?

Hay:

- Nhà của bạn thỏ làm bằng gì? Nhà của Cáo làm bằng gì?

- Khi mùa xuân đến, nhà của Cáo đã làm sao? Vì sao nó lại như vậy?

- Gà Trống làm thế nào mà lại dọa được Cáo rồi đuổi được Cáo đi?

Rõ ràng cách đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng sẽ giúp trẻ dễ dàng trả lời câu hỏi của cô hơn và trẻ cảm nhận được nội dung của tác phẩm tốt hơn.

Căn cứ vào mục đích yêu cầu của hoạt động, căn cứ vào đối tượng và khả năng cảm thụ của trẻ để tôi xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại cho phù hợp.

 Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với câu chuyện “Ba cô gái”, với chủ đề gia đình, tôi đã xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại theo các dạng sau:

a. Dạng câu hỏi nhận biết: nhằm giúp trẻ tái tạo nội dung truyện, nhớ lại một cách có hệ thống các việc diễn ra. Loại câu hỏi này dùng cho những trẻ yếu và trung bình trong lớp.

Ví dụ:

 

+ Các cháu vừa nghe cô kể chuyện gì?

+ Trong câu chuyện cô vừa kể, bà mẹ sinh được bao nhiêu cô con gái?

+ Bà mẹ thương các cô như thế nào?

+ Khi bà mẹ bị ốm, bà nhờ ai mang thư đến cho các con?

 Ngoài ra tôi còn dùng dạng câu hỏi nhận biết nâng cao để buộc trẻ phải tư duy suy nghĩ.

+ Vì sao cô Hai lại bị Sóc biến thành nhện, còn cô chị Cả lại bị biến thành Rùa?

+ Khi nghe Sóc báo tin mẹ ốm thì cô Út đã làm gì?

b. Dạng câu hỏi vận dụng kinh nghiệm:

 

Trẻ vận dụng khả năng hiểu biết của mình để trả lời nhằm giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng và sự sáng tạo của mình. Loại câu hỏi này tôi thường dùng cho những trẻ khá hơn trong lớp.

     Ví dụ:

+ Theo các cháu, ngoài Sóc ra thì còn cách nào để bà mẹ báo tin cho các con mình biết?

+ Khi bà mẹ bị ốm thì bà mong muốn điều gì?

+ Vì sao Sóc lại giận dữ biến chị Cả thành con rùa?

Bên cạnh đó tôi dùng dạng câu hỏi vận dụng kinh nghiệm nâng cao để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và kích thích tư duy trẻ phát triển.

     Ví dụ:

+ Các cháu có nhận xét gì về tính cách của ba cô gái?

 + Nếu mẹ bị ốm thì các cháu sẽ làm gì?

c. Dạng câu hỏi giải thích và phỏng đoán suy luận

 

Đây là dạng câu hỏi đòi hỏi trẻ phải tận dụng nhiều mẫu câu để trả lời. Dạng câu hỏi này giúp trẻ tăng vốn từ, phát triển trí tưởng tượng phong phú và kích thích tư duy của trẻ phát triển. Loại câu hỏi này thường dùng cho những cháu giỏi trong lớp.

     Ví dụ:

     + Hành động nào cho cháu biết cô út thật lòng thương mẹ?

     + Nếu cô út không về thăm mẹ thì chuyện gì sẽ xảy ra?

     + Theo cháu cô út sẽ làm gì khi thấy hai chị mình bị biến thành rùa và nhện?

     Ngoài những dạng câu hỏi trên, tôi còn sử dụng loại câu hỏi giải thích và phỏng đoán suy luận nâng cao. Đây là những câu hỏi khó có tính thu hút trẻ và đòi hỏi trẻ phải có khả năng phỏng đoán, suy luận cao.

     Ví dụ:

     + Trong ba  cô gái, cháu thích cô nào nhất? Vì sao?

     + Theo cháu, cháu hiểu thế nào là người con hiếu thảo?

     + Cháu hãy nghĩ ra một kết thúc khác cho câu chuyện?

     + Cháu hãy đặt ra tên khác cho câu chuyện là gì?

Tôi đưa ra những câu hỏi giúp trẻ suy nghĩ về nội dung tư tưởng của tác phẩm bằng cách tôi hướng trẻ suy nghĩ vào nhân vật chính, phát hiện ra những phẩm chất của nhân vật, đưa ra nhận xét về hình tượng nhân vật và xác định thái độ của mình đối với các nhân vật.

      Ví dụ: Tôi đặt ra các câu hỏi:

- Các con thấy Tích Chu là người như thế nào? (trong truyện “Tích Chu”)

- Các con có nhận xét gì về người anh và người em? (Trong truyện “Hai anh em”)…

- Con thích nhân vật nào nhất trong câu chuyện “Cáo, Thỏ và Gà Trống?” Vì sao con lại thích nhân vật đó?

Để giúp trẻ hiểu sâu sắc nội dung tư tưởng của tác phẩm, tôi thường đặt câu hỏi để tạo cơ hội cho trẻ tự bày tỏ thái độ của mình đối với nhân vật. Trẻ tự đặt mình vào hoàn cảnh của nhân vật để tìm ra cách giải quyết.

Ví dụ: Trong truyện “Tích Chu” tôi hỏi trẻ:

+ Nếu là con, con sẽ làm gì khi ông bà, bố mẹ bị ốm?

+ Khi thấy ai đó bị kẻ xấu bắt nạt, con sẽ làm thế nào?(Tron truyện“Cáo, Thỏ và Gà Trống”)…

+ Khi bố mẹ hay người lớn dặn dò con điều gì thì con phải làm thế nào? (Trong truyện“Cô bé quàng khăng đỏ”).

Như vậy, bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi đa dạng đi từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến nâng cao sẽ kích thích hứng thú và tính tích cực hoạt động của mọi đối tượng trẻ đồng thời tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin và tinh thần học tập sôi nổi. Cách đưa câu hỏi như vậy sẽ rất phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Những cháu khá giỏi trả lời câu hỏi nâng cao sẽ giúp các cháu yếu hơn tích cực học hỏi, đây chính là cách cho trẻ học qua bạn và trẻ sẽ dần dần bắt chước bạn chịu suy nghĩ trả lời, làm cho các cháu yếu ngày càng phát triển ngôn ngữ, mở rộng kiến thức hơn, mạnh dạn và ngày càng tự tin hơn.

Nhờ hệ thống câu hỏi nêu trên mà trẻ cảm thụ truyện kể một cách tích cực hơn, sâu sắc hơn, trẻ nhớ nội dung câu chuyện lâu hơn và khi cho trẻ đóng kịch trẻ sẽ tái tạo tính cách nhân vật tự tin hơn, chân thật hơn.

Ngoài ra trong giờ kể chuyện, tôi luôn tạo ra bầu không khí vui tươi giúp trẻ có tâm trạng thoải mái, từ đó trẻ tích cực trả lời các câu hỏi của cô đưa ra.

Khi trẻ trả lời câu hỏi tôi không bao giờ áp đặt trẻ mà tôi để trẻ tự trả lời theo ý hiểu của mình, trẻ tự diễn đạt theo ý của trẻ, tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt sau đó tôi mới hướng trẻ vào nội dung nhất định. Căn cứ vào khả năng cảm thụ của trẻ để tôi lần lượt đưa ra từng dạng câu hỏi từ dễ đến khó sao cho tất cả trẻ trong lớp đều trả lời câu hỏi theo khả năng của mình.

c)     Nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm văn học cho trẻ thông qua trò chơi đóng kịch.

           Đóng kịch là hình thức hoạt động chơi đặc biệt và độc lập thực sự của trẻ nhằm phát triển trí nhớ và giáo dục trẻ tinh thần tập thể. Qua hoạt động này, trẻ truyền đạt lại nội dung câu chuyện và làm sống lại tâm trạng, hành động và ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật đồng thời trẻ biết thể hiện tình cảm và đánh giá các nhân vật trong truyện. Khi đóng kịch trẻ dễ dàng nắm được nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, nắm được tính liên tục của câu chuyện, điều này góp phần đẩy mạnh sự phát triển tư duy và khả năng cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc ở trẻ.

Trước hết, để có một vở kịch cho trẻ đóng tôi chuyển thể tác phẩm văn học sang thành kịch. Tôi đã lựa chọn những tác phẩm văn học có nội dung tư tưởng sáng rõ để chuyển thể thành những kịch bản trò chơi đóng vai ngắn gọn. Nội dung cốt truyện phát triển mạch lạc, nhân vật giàu màu sắc thẩm mỹ và tính cách, hành động, ngôn ngữ rõ ràng.

Để giúp trẻ hiểu nội dung câu chuyện, nắm vững cốt truyện theo vai, nhớ tên nhân vật, tính cách và hình dung ra dáng điệu, nét mặt, hành động của từng nhân vật thì tôi đã cùng trẻ đọc diễn cảm kịch bản và trò chơi về các nhân vật trong kịch bản để trẻ đưa ra ý kiến nhận xét của mình. Từ đó giúp trẻ có những biểu tượng đúng đắn hơn về hình tượng trong TPVH, hiểu được tính cách các nhân vật, tư tưởng tác phẩm và xác định được thái độ của mình đối với các nhân vật. Trong quá trình trao đổi với trẻ về tác phẩm, tôi đã đưa ra các câu hỏi giúp trẻ hiểu sâu hơn về diễn biến hành động của các nhân vật.

Ví dụ: Trong truyện “chú Dê đen”, tôi đưa ra các câu hỏi như:

- Tại sao Chó Sói lại có thể to tiếng quát nạt Dê Trắng như thế  ?

- Thái độ của Dê Đen trước con Sói hung ác ấy có giống Dê Trắng không ? Tại sao ?

- Vở kịch này đã gợi lên cho chúng ta điều gì ?

Khi trao đổi với trẻ về kịch bản, tôi gợi ý trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của các nhân vật và phẩm chất, tính cách nhân vật. Trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của các nhân vật, khung cảnh của hành động và nhanh chóng có những ấn tượng như đã xem kịch, trẻ như nhìn thấy được toàn bộ cảnh trong kịch, như thấy mình được diễn.

Ví dụ: Trong vở kịch “Dê con biết vâng lời mẹ”, qua các chi tiết của truyện, tôi gợi ý để trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài dữ tợn, giọng nói ồm ồm, tính cách thì gian xảo, lừa bịp...của Chó Sói, còn các chú Dê con thì có vẻ ngoài và giọng nói non nớt, hồn nhiên, đáng yêu, ngoan ngoãn nghe lời mẹ dặn nhưng lại tỏ ra rất thông minh, lanh lợi trước sự xảo quyệt của Sói .

  Sau khi được đọc và phân tích nội dung kịch bản cùng cô, trẻ hiểu được nội dung kịch bản và nắm rõ tính cách nhân vật thì tôi để trẻ tự nhận vai diễn. Tuy nhiên để trẻ có thể nhận được vai phù hợp hơn với khả năng và tính cách của mình thì tôi luôn giúp trẻ hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của tất cả các vai trong vở kịch. Điều cốt lõi tôi luôn tạo cho trẻ sự thoải mái khi nhận vai và trẻ sẽ cảm thấy hứng thú với vai diễn đó. Như vậy trẻ mới thực sự tích cực luyện tập và có nhiều cảm xúc để diễn tốt, diễn sáng tạo hơn .

Ví dụ: Đối với những cháu có tính bạo dạn, cá tính thì tôi gợi ý cho cháu nhận những vai có tính cách mạnh mẽ như Sói, Cáo, Dê Đen... còn những cháu nhút nhát, hiền dịu hơn thì tôi thưòng gợi ý cho cháu nhận những vai phù hợp với tính cách của cháu như vai Thỏ, Bác Gấu, Dê con, Dê mẹ, Dê Trắng...

Trong quá trình trẻ học lời thoại, tôi không bắt trẻ học thuộc từng câu, từng chữ giống cô mà tôi luôn khuyến khích trẻ tự sáng tạo. Trẻ có thể thêm, bớt từ, những câu cảm thán, nhấn giọng tùy vào cảm xúc riêng mà trẻ có được trước hoàn cảnh đó miễn sao không làm sai lệch nội dung cơ bản của tác phẩm đồng thời tôi gợi ý hướng dẫn trẻ thể hiện sắc thái tình cảm của các nhân vật qua ngữ điệu giọng nói, nét mặt .

Ví dụ: Với câu chuyện “Con Cáo” thì trẻ phải biết thể hiện giọng của gà mẹ “Cục ta cục tác, Cáo ác, Cáo ác” vừa to, vừa cao, tiếng kêu như vừa để đe dọa Cáo không cho nó bắt gà con, vừa để đánh động và gọi mọi người xung quanh ra giúp mình, nét mặt phải dữ dằn...

Hay câu chuyện “Tích Chu”, trẻ phải thể hiện được vẻ mặt và giọng nói hốt hoảng, lo sợ của Tích Chu khi trở về không thấy bà đâu hoặc thể hiện sự hối hận của Tích Chu khi mong muốn bà trở lại thành người: “Bà ơi, bà trở lại với cháu, cháu sẽ đi lấy nước cho bà uống, cháu sẽ không hư nữa đâu”, lúc này trẻ phải điều khiển giọng của mình to hơn bình thường và trẻ có thêm (bớt) lời cho phù hợp.

 Khi trẻ nhập vai, để giúp trẻ tưởng tượng sáng tạo tốt hơn, tôi có thể cho trẻ xem thêm một số tranh minh họa thể hiện nét mặt, dáng vẻ của nhân vật trong tác phẩm và phân tích nội dung bức tranh đó cho trẻ hiểu .

Ví dụ: Khi đóng kịch “Cáo, Thỏ và Gà trống”, tôi cho trẻ xem bức tranh thể hiện đoạn Gà Trống đuổi Cáo ra khỏi nhà Thỏ, tôi giúp trẻ thấy được rằng trong tình huống đó, Cáo rất sợ hãi, nó lao mình qua cửa sổ nhanh đến nỗi chưa kịp mặc hết cái áo, đuôi nó bay tung trong gió, hai tai cụp sát đất. Nó vừa chạy vừa quay lại nhìn Gà Trống với ánh mắt đầy hốt hoảng, sợ Gà Trống đuổi theo. Hay dáng vẻ oai phong, bệ vệ, dũng cảm của Gà Trống khi đuổi cáo ra khỏi nhà Thỏ; dáng vẻ dũng cảm, thông minh, nhanh trí của Dê Đen ... 

Trong quá trình trẻ tập kịch, để phát huy được trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ, tôi thường mời một vài trẻ khá thể hiện trước và cho các bạn quan sát, nhận xét cách thể hiện của bạn. Tôi động viên, khen ngợi những sáng tạo của trẻ đồng thời tôi gợi ý để trẻ khác chỉ rõ chỗ chưa đạt của bạn và cùng nhau sửa. Đối với những trẻ nhút nhát tôi thường diễn mẫu cho trẻ xem để trẻ nắm được cách thể hiện vai diễn.     

 

Để đạt được hiệu quả cao, ngoài việc cho trẻ ôn lại nội dung, phân biệt được giọng điệu, lời thoại từng nhân vật và cho trẻ tự thể hiện hành động, điệu bộ của nhân vật theo tổ, nhóm, cá nhan thi tôi đã rất chú trọng tới việc trang trí sân khấu và hóa trang cho trẻ phù hợp với từng nhân vật.

Ví dụ: khi tổ chức cho trẻ đóng kịch “Bác gấu đen và hai chú thỏ”, truyện “Cáo, thỏ và gà trống” hay truyện “dê đen và dê trắng”, tôi đã cùng trẻ tạo ra một phông vẽ kết hợp sắp đặt cây cối xung quanh lớp có khung cảnh như một khu rừng với những dãy núi xa xa, cây cỏ, có những tia nắng ấm áp và những con chim đậu trên cành cây. Từ những thùng cát tông, thùng xốp hay những mảnh ghép bằng bìa, tôi đã trang trí tạo ra những ngôi nhà của Thỏ, của Cáo...Tôi tận dụng những chiếc ghế băng của trường trang trí thêm để tạo ra chiếc cầu sử dụng trong vở kịch “Dê Đen và Dê Trắng”...

  Với môi trường giống như thật đó đã rất cuốn hút trẻ vào hoạt động đóng kịch đồng thời giúp trẻ tái hiện một cách sâu sắc hơn nội dung tác phẩm.

Bên cạnh việc thiết kế sân khấu bằng các hình thức khác nhau thì việc hóa trang cho trẻ đóng kịch cũng rất cần thiết. Đây cũng là một khâu rất cần được chú ý, thiếu nó trẻ sẻ mất đi những cảm xúc, hứng thú bước vào cuộc chơi.

Ví dụ: khi tổ chức cho trẻ đóng kịch tác phẩm “Ba chú lợn con”, ngoài việc thiết kế sân khấu có màn che và trang trí cảnh phù hợp với tác phẩm thì tôi cho trẻ mặc trang phục có màu sắc phù hợp với 3 chú lợn: lợn đen, lợn hồng, lợn trắng và cho trẻ đeo mặt nạ hình con lợn, đeo bao tay và đi giày hình chân lợn rất ngộ nghĩnh. Hay tác phẩm “Hai anh em”, trích đoạn “Tấm Cám”, tôi đã tạo ra những chiếc mũ, đôi giày, chòm râu, tóc...hóa trang cho ông Tiên, ông Bụt, công chúa, hoàng tử vừa rất đơn giản phù hợp lại khiến trẻ rất thích thú...

Việc hóa trang và bố trí sân khấu phù hợp, trang phục đẹp sẽ giúp trẻ tự tin khi nhập vai và tạo cho trẻ tâm trạng rộn ràng và hứng thú với từng vở diễn.

Trong quá trình trẻ đóng kịch, tôi đã kết hợp với âm thanh, âm nhạc phù hợp với âm sắc, tình huống của tác phẩm và tâm trạng của nhân vật. Có thể là tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách, tiếng muông thú kêu trong khu rừng khi đóng kịch “Dê đen và Dê trắng”, “chú Dê đen”, hay tiếng mưa mỗi lúc một to hơn rõ hơn, tiếng gió thổi ào ào, tiếng cành cây gãy, đổ...trong truyện “Bác gấu đen và hai chú thỏ” ; lúc là một đoạn nhạc gay cấn trong đoạn Gà Trống đuổi Cáo ra khỏi nhà Thỏ (trong vở kịch “Cáo, thỏ và Gà Trống”), lúc lại là một bản nhạc tình cảm, nhẹ nhàng trong đoạn Dê mẹ âu yếm các chú Dê con khi đã khôn ngoan đuổi được Cáo gian ác ra khỏi nhà lúc Dê mẹ đi vắng (trong vở “Dê con biết vâng lời mẹ”).

Sự hòa quyện giữa âm thanh, âm nhạc và cảm xúc sẽ giúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm một cách sâu săc hơn và làm cho vở kịch thêm sống động và hấp dẫn trẻ hơn.

 Như vậy tổ chức trò chơi đóng kịch một cách khoa học sẽ trở thành một hình thức giải trí giúp nâng cao khả năng hưởng thụ tác phẩm văn học cho trẻ và là một phương tiện giáo dục trẻ thực sự hiệu quả ở trường mầm non đăc biệt trong lĩnh vưc giáo dục nghệ thuật và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

4.     Kết quả thực hiện”

 

 a)    Đối với trẻ:

Nội dung

Tỷ lệ trẻ đạt trước khi thực hiện đề tài

Tỷ lệ trẻ đạt sau khi thực hiện đề tài

Tỷ lệ tăng

-Trẻ hứng thú, tích cực hoạt động

65%

100%

35%

- Khả năng cảm thụ TPVH của trẻ (biểu đạt, thể hiện thái độ)

68%

95%

27%

- Trẻ mạnh dạn, tự tin và sáng tạo trong HĐ kể chuyện, đóng kịch

58%

95%

37%

- Khả năng tập trung chú ý của trẻ.

60%

100%

40%

- Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc, biểu cảm.

40-45%

80%

35-40%

     b)    Đối với cô:

Nội dung

Trước khi áp dụng BP

Sau khi áp dụng BP

Tỷ lệ tăng

- Khả năng thu hút sự tập trung chú ý của trẻ

62%

98%

36%

- Khả năng tổ chức tiết học nhẹ nhàng, linh hoạt, sáng tạo.

65%

95%

30%

- Câu hỏi đàm thoại phù hợp, phát huy khả năng của từng trẻ.

70%

98%

28%

  

 Phần III- Kết Luận:

 

Nâng cao khả năng cảm thụ TPVH cho trẻ 5-6 tuổi và giúp trẻ hứng thú, tích cực hơn với hoạt động này là một vấn đề hết sức quan trọng. Thông qua những câu chuyện sẽ giúp trẻ biết yêu cái đẹp của tự nhiên và con người, biết phân biệt cái thiện, cái ác, đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về cuộc sống xung quanh đồng thời góp phần phát triển trí tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật và là một trong những hoạt động cần thiết trong việc hình thành nhân cách cho trẻ.

Hình thức cho trẻ làm quen với TPVH phong phú, đa dạng sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện hơn về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm kĩ năng xã hội.

Từ thực tiễn giảng dạy và kết quả đã đạt được tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhằm giúp trẻ 5-6 tuổi hứng thú, tích cực và cảm thụ tốt tác phẩm văn học đặc biệt là truyện kể, đó là:

 - Thiết kế đồ dùng trực quan đẹp, sinh động để thu hút sự hứng thú tích cực của trẻ.

 - Xây dựng hệ thống câu hỏi để kích thích hứng thú và tư duy của trẻ.

 - Tổ chức trò chơi đóng kịch khoa học, hấp dẫn để nâng cao khả năng cảm thụ TPVH cho trẻ.

 Ngoài một số biện pháp nêu trên, muốn nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm văn học cho trẻ và giúp trẻ hứng thú tích cực hơn với hoạt động này đòi hỏi người giáo viên phải nắm được đặc điểm sinh lý và khả năng cảm thụ văn học của trẻ. Bản thân cô giáo cần rèn luyện và trau dồi kiến thức văn học, luyện giọng đọc, giọng kể và khả năng thể hiện qua cử chỉ, nét mặt, điệu bộ sao cho diễn cảm, phù hợp, ứng dụng CNTT vào việc thiết kế các câu chuyện thành những bộ phim hoạt hình động để thu hút trẻ. Tích cực tham khảo và dựng lên một số kịch bản truyện mới và tập cho trẻ được tham gia đóng kịch thường xuyên. Tăng cường trao đổi, học hỏi đồng nghiệp để tích lũy thêm kiến thức về việc tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen với TPVH.

       Việc áp dụng một số biện pháp trên đã giúp trẻ lớp tôi luôn hứng thú, tích cực với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học đặc biệt là truyện kể. Trẻ mạnh dạn, tự tin và có nhiều sáng tạo trong hoạt động kể truyện. Trẻ đã biết thể hiện khá tốt ngôn ngữ, giọng điệu sắc thái của nhiều tuyến nhân vật.

Bản thân tôi sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi đã tự tin và mạnh dạn hơn rất nhiều. Tôi chủ động hơn và tổ chức giờ học linh hoạt, sáng tạo hơn. Vì vậy giờ làm quen với tác phẩm văn học của lớp tôi được chuyên môn nhà trường đánh giá cao.

Trên đây là một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi hứng thú, tích cực và cảm thụ tốt TPVH mà tôi đã mạnh dạn áp dụng cho trẻ lớp tôi. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp.

                                                                                             Xin chân thành cảm ơn!

                                                                      Quán Toan, ngày 18 tháng 01 năm 2011

                                                                                                         Người viết sáng kiến:
                                                                                                            Nguyễn Thị Hương  

Các tin khác
[Quay lại]
Hồ sơ nhập học

    1. Đơn xin nhập học

    2. Bản sao giấy khai sinh

    3. Hộ khẩu nội phường (photo)

    4. Sổ tiêm chủng (photo)

    5. Ảnh 4*6: 2 ảnh

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê truy cập
133789
Tổng số truy cập : 133789
Đang trực tuyến : 36